Điều trị các bệnh mạn tính bằng kỹ thuật cấy chỉ (Dùng kim liền chỉ)

Kim cấy chỉ liền chỉ PDO được ứng dụng điều trị nhiều loại bệnh mạn tính với những đặc tính ưu việt hơn hẳn so với các loại kim cấy chỉ thông thường. Ưu điểm của kim cấy chỉ là có nhiều kích cỡ, kích thước kim nhỏ, thân kim có gắn sẵn chỉ tự tiêu ứng với mỗi vùng trên cơ thể người.

I. Đại cương phương pháp cấy chỉ

Cấy chỉ được du nhập vào nước ta từ những năm 1970. Một số bệnh viện chuyên khoa y học cổ truyền (YHCT) như: Viện Châm cứu Trung ương, Viện Đông y Trung ương, Bệnh viện Quân y 103, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108… đã nghiên cứu và thử nghiệm từ rất sớm.

Đến nay cấy chỉ được nhiều bệnh viện chuyên khoa y học cổ truyền cấp tỉnh, huyện, bệnh viện thẩm mỹ và các phòng khám chuyên khoa tư nhân áp dụng điều trị cho hàng trăm nghìn lượt bệnh nhân.

Khác với phương pháp châm cứu truyền  thống, cấy chỉ vào huyệt đạo đã  tạo ra một kích thích liên tục. Kích hoạt hệ thông tin của cơ thể, là kích hoạt  mạng lưới điều khiển học của các phản ứng thể chất, tinh thần và trí tuệ thông qua việc dẫn truyền xung động thần kinh. Từ đó có thể kích thích khả năng tự phục hồi của cơ thể, tăng cường đáp ứng miễn dịch và dẫn truyền thần kinh.

Theo y học hiện đại, cơ chế của châm cứu là cơ chế thần kinh thể dịch. Dưới tác động vào huyệt đạo sẽ tăng cường đáp ứng miễn dịch, tăng sức đề kháng của cơ thể, kích thích phục hồi thần kinh cơ, điều hòa nội tiết, điều hòa huyết áp, điều chỉnh trương lực cơ vân và cơ trơn, tăng tiết các hoạt chất sinh học có tác dụng giảm đau, chống viêm; kích thích tăng tiết morphin nội sinh… Từ đó có tác dụng tốt trong phòng và chữa bệnh.

Công nghệ cấy chỉ cũ do kỹ thuật còn nhiều khiếm khuyết, thường dùng kim chọc dò tủy sống có kích thước to, khiến bệnh nhân đau đớn, cảm giác sợ hãi, chảy máu. Thêm nữa, phương pháp này chỉ cấy được ít huyệt trong một lần điều trị, vùng cấy chỉ còn hạn chế (như vùng mặt, đầu…). Chính vì vậy, đây cũng là một nguyên nhân gây hạn chế sự phát triển của công nghệ độc đáo này.

Ngày nay với việc ứng dụng khoa học kỹ  thuật vào lĩnh vực cấy chỉ, các hãng sản xuất đã cho ra nhiều sản phẩm cấy chỉ hiện đại, mẫu mã đẹp và an toàn tuyệt đối. Nắm bắt xu hướng đó, Công ty CP Y dược Bắc Nam đã chủ động nhập khẩu sản phẩm kim cấy chỉ liền chỉ từ những thương hiệu nổi tiếng trên thế giới nhằm đưa ra thị trường sản phẩm tốt với nhiều tính năng ưu việt cho bệnh nhân cũng như đội ngũ nhân viên y tế.

Chúng tôi đã xây dựng một quy trình kỹ thuật cấy chỉ hoàn thiện, giúp quá trình thực hiện trở nên đơn giản, hạn chế các khiếm khuyết từ các công nghệ cấy chỉ cũ gây đau đớn, chảy máu, nhiễm trùng, biến chứng y khoa… Từ đó đem đến hiệu quả điều trị tốt cho bệnh nhân, ứng dụng rộng rãi cho làm đẹp thẩm mỹ, giảm thiểu cảm giác đau đớn và hạn chế tối đa nguy cơ nhiễm trùng.

II. Kỹ thuật cấy chỉ bằng kim cấy chỉ liền chỉ

1. Kim cấy chỉ liền chỉ

Kim cấy chỉ liền chỉ là một sản phẩm cải tiến của khoa học trong lĩnh vực y tế trước sự hạn chế của kim cấy chỉ thông dụng. Ưu điểm của loại kim cấy chỉ này là có nhiều kích cỡ, kích thước kim nhỏ, thân kim có gắn sẵn chỉ tự tiêu (trước đây là phải xỏ chỉ từng lần một) ứng với mỗi vùng trên cơ thể người thầy thuốc có thể chọn cho mình một bộ kim tương ứng. Thiết kế tinh tế, mẫu mã đẹp và độ an toàn cao.

2. Các bước tiến hành cấy chỉ với kim liền chỉ:

– Chuẩn bị bệnh nhân: người bệnh nằm bộc lộ vùng huyệt chỉ định.

– Thầy thuốc thực hiện vô khuẩn như  phẫu thuật, vô khuẩn vùng huyệt, phủ săng có lỗ.

– Sát trùng vùng huyệt định cấy chỉ.

kim cấy chỉ BNP PDO chỉ thẳng

– Dùng kim liền chỉ tiến kim qua da vào huyệt vị, và chắc chắn rằng kim đã ăn sâu vào huyệt vị.

– Rút kim liền chỉ ra, sát khuẩn lại vùng cấy chỉ, đặt gạc và dán băng dính nếu có chảy máu.

– Liệu trình: Cách 3 – 4 tuần cấy chỉ một lần. Liệu trình từ 2 – 6 lần.

Yêu cầu: Mọi thao tác và phương tiện, dụng cụ phải đảm bảo vô khuẩn như khi làm các thủ thuật ngoại khoa.

III. Ứng dụng vào điều trị các bệnh mạn tính

Có thể nói cấy chỉ chữa bệnh là phương pháp điều trị đặc hiệu cho những bệnh mạn tính. Sau đây là một số mặt bệnh và pháp huyệt tham khảo:

1. Các bệnh lý về đau xương khớp:

+ Pháp huyệt tham khảo: Phong môn, Bách hội, Đại chùy, Dương quan, Thận du, Tam âm giao, Huyết hải, Hạ liêu, Thủy tuyền, Trung đô.

– Khớp vai: Thêm vân môn, Hợp cốc, Kiên ngung, Cự cốt, Hàm yến, Kiên trinh, Nhu du.

– Khớp gối: Thêm túc tam lý, Độc tỵ, Dương lăng tuyền, Huyết hải, Âm lăng tuyền.

– Khớp háng: Trật biên, Thứ liêu, Trung liêu, Hoàn khiêu, Cự liêu.

-Khớp cổ tay: Dương trì, Ngoại quan, Thái uyên, Dương khê, Hợp cốc, Dương cốc.

– Khớp cổ chân: Giải khê, Thân mạch, Côn lôn, Khâu khư.

2. Tai biến mạch máu não:

Hợp cốc, Khúc trì, Kiên ngung, Dương trì, Ngoại, quan, Túc tam lý, Giải khê, Dương lăng tuyền, Hoàn khiêu, Tam âm giao, Huyết hải, Thận du, Ấn đường, Thái dương.

3. Đau đầu:

Ấn đường, Bách hội, Hợp cốc, Khúc trì.

– Đau đỉnh đầu: Trung đô, Quang minh, Can du, Thái xung.

– Đau đầu vùng gáy: Kim môn, Đại trung, Phong trì, Á môn, Não hộ, Kinh cốt.

– Đau vùng trán thái dương: Đầu duy, Túc tam lý, Giải khê, Thượng tinh, Lương khâu, Xung dương, Công tôn.

– Đau đầu migraine: Thượng quan, Hàm yên, Suất cốc (cấy chỉ cùng bên).

– Đau đầu vùng mang tai: Túc lâm khấp, Dương phụ, A thị huyệt

4. Hen phế quản:

Phế du, Cao hoang, Khúc trì, Thiên đột, Túc tam lý, Khổng tối, Hợp cốc, Định suyễn, Thái uyên, Tam âm giao, Thiên lịch.

5. Đau thần kinh tọa:

Thận du, Đại trường du, Trật biên, Hoàn khiêu, Dương lăng tuyền, Túc tam lý, Tam âm giao, Thủy tuyền.

6. Liệt dây VII ngoại biên:

Hợp cốc, Nghinh hương, Tứ bạch, Cự liêu, Địa thương, Đại nghinh, Hạ quan, Ế phong, Bách hội, Nhân trung.

7. Mất ngủ:

Bách hội , Đại chùy, Ấn đường, Tâm du, Thận du, Thần môn, Túc tam lý, Thái khê.

8. Kinh nguyệt không đều:

Tam âm giao, Huyết hải, Chi chính, Thủy tuyền, Thần môn, Bách hội, Túc tam lý, Quan nguyên, Khí hải, Tâm du, Cách du, Thận du, Thái xung.

9. Một số bệnh lý khác như:

Táo bón, bí tiểu tiện, suy nhược thần kinh, giảm béo và làm đẹp…

Bài viết trước đó PHƯƠNG PHÁP CẤY CHỈ THẨM MỸ